TUYÊN BỐ MẤT TÍCH VÀ TUYÊN BỐ CHẾT

Thứ Th 5,
26/09/2024
Đăng bởi Support HRV

Bất cứ cá nhân nào cũng có thể xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nếu đáp ứng các quy định của Bộ luật Dân sự. Giao dịch dân sự là yếu tố cơ bản để bảo đảm sinh hoạt vật chất và quan hệ xã hội của mỗi người. Tuy nhiên, có những trường hợp mà một cá nhân biệt tích trong một khoảng thời gian dài hoặc không thể xác định là cá nhân còn sống hay không. Như vậy, các giao dịch dân sự do người đó xác lập sẽ không thể tiếp tục thực hiện được, ảnh hưởng đến những người đã giao dịch với họ, đồng thời những giao dịch dân sự do người thân của những người biệt tích hoặc không thể xác định là còn sống không xác lập sẽ có liên quan đến những những người này nên không thể thực hiện được. Để giải quyết vướng mắc liên quan đến các trường hợp này Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định cụ thể về điều kiện để tuyên bố mất tích và tuyên bố chết, cũng như cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của người bị tuyên bố mất tích hoặc người bị tuyên bố là đã chết:

NỘI DUNG CHÍNH:

1. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú.

2. Tuyên bố mất tích.

3. Tuyên bố chết.

1. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

1.1. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015

Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định của BLDS 2015.

1.2. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

Theo quy định tại Điều 65 BLDS 2015 thì có các trường hợp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như sau:

a) Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích lên quan:

Theo yêu cầu của  người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:

- Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý.

- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

- Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

b) Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú theo chỉ định của Tòa án:

Trường hợp không có những người  quản lý tài sản theo yêu cầu do BLDS 2015 quy định thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

2. Tuyên bố mất tích

2.1. Điều kiện để tuyên bố mất tích

Theo quy định tại Điều 68 BLDS 2015:

- Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

- Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Lưu ý:

- Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

- Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2.2. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Theo quy định tại Điều 69 BLDS 2015:

- Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLDS 2015.

- Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

2.3. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mât tích

a) Điều kiện để hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích:

- Điều kiện để hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích được quy định tại Điều 70 BLDS 2015 như sau:

- Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

b) Giải quyết khi hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích:

Theo quy định tại Điều 70 BLDS 2015:

- Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.

- Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Lưu ý: Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

3. Tuyên bố chết

3.1. Điều kiện để tuyên bố chết

Điều kiện để tuyên bố chết được quy định tại Điều 71 BLDS 2015:

Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định về cách tính thời hạn đối với việc tuyên bố mất tĩch.

Lưu ý:

- Căn cứ vào các trường hợp tuyên bố chết do BLDS 2015 quy định, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

- Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

3.2. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết

a) Quan hệ về nhân thân của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết:

Theo quy định tại Điều 72 BLDS 2015:

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

b) Quan hệ về tài sản của người bị tuyên bố là đã chết:

Theo quy định tại Điều 72 BLDS 2015:

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3.3. Hủy bỏ quyết định tuyên bố chết

a) Điều kiện để hủy bỏ quyết định tuyên bố chết:

Theo quy định tại Điều 73 BLDS 2015:

Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.

b) Giải quyết khi hủy bỏ quyết định tuyên bố chết:

- Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết mà trở về:

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định về ly hôn với người bị tuyên bố là mất tích thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.

- Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết mà trở về:

+ Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.

+ Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

+ Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của BLDS 2015, Luật Hôn nhân và gia đình.

Lưu ý: Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Mọi thông tin, xin liên hệ  SÀI GÒN ĐẠI TÍN LAW FIRM:

♦ Địa chỉ: Số 169/6D Võ Thị Sáu, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

♦ Điện thoại: 028 39 480 939.

♦ Hotline: 0913 655 471 (Luật sư Hải).

♦ Email: tuvan@saigondaitin.com.

 

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan

popup

Số lượng:

Tổng tiền: