SỰ NHẦM LẪN CHỦ THỂ TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI (P1)
Trong hợp đồng thương mại có hai ý niệm pháp lý thường xuyên được nhắc đến, gắn liền với hợp đồng đó là Chủ thể tham gia hợp đồng và Chủ thể giao kết/ ký kết hợp đồng. Mặc dù đây là hai khái niệm khác nhau về bản chất, tuy nhiên do được sử dụng quá phổ biến nên đôi khi chúng ta có sự nhầm lẫn giữa những khái niệm này, do đó khi giao kết hợp đồng thương mại sẽ xuất hiện rủi ro khi có phát sinh tranh chấp và bài viết này sẽ nêu lên một số trường hợp như vậy.

Nhầm lẫn về Chủ thể tham gia hợp đồng thương mại.
a. Chủ thể hợp đồng được xác lập là Doanh nghiệp tư nhân.
Mặc dù hợp đồng thương mại được xác lập với Doanh nghiệp tư nhân (đứng tên trên hợp đồng là tên của doanh nghiệp) thông qua người đại diện hợp pháp là Chủ doanh nghiệp tư nhân thì chủ thể thực tế tham gia hợp đồng vẫn là cá nhân chủ doanh nghiệp. Vì cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ là người chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ phát sinh từ doanh nghiệp, khẳng định này tương thích quy định tại khoản 1 Điều 188 “tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” và khoản 2 điều 19 “Sau khi bán doanh nghiệp tư nhân chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác…” của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025.
Mặt khác, cá nhân chủ doanh nghiệp cũng đồng thời là chủ thể trực tiếp thụ hưởng quyền phát sinh từ doanh nghiệp tư nhân. Khi phát sinh tranh chấp, chính cá nhân chủ doanh nghiệp sẽ đại diện cho doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan trước Tòa án và Trọng tài, điều này được khẳng định tại khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025 và dựa trên thực tiễn giải quyết tranh chấp.
b. Người đại diện theo pháp luật của Cty Cổ phần ký hợp đồng khi chưa được sự chấp thuận nội bộ
Tình huống pháp lý minh họa:
Ngày 7/1/2022 ông T và Công ty cổ phần X (Công ty X) do người đại diện theo pháp luật là ông K có ký một hợp đồng hợp tác kinh doanh. Và theo quy định của luật doanh nghiệp và điều lệ của Công ty X thì để ký hợp đồng này (giao dịch với người có liên quan có giá trị <35% tổng giá trị tài sản công ty) thì người đại diện phải thông báo cho Hội đồng quản trị (HĐQT) để thông qua quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025. Tuy nhiên, trước khi ký hợp đồng với ông T thì ông K đã không thông báo cho các thành viên Hội đồng quản trị biết, và cũng không có bất kỳ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông nào đề cập đến việc này. Trong quá trình hợp đồng được thực hiện, thì công ty cũng không ghi nhận bất kỳ giao dịch nào với ông T (dựa trên sổ sách báo cáo tài chính). Khi xảy ra tranh chấp thì, ông T yêu cầu Công ty X trả lại tiền.
Trong tình huống nêu trên, thì việc ông K ký hợp đồng hợp tác với ông T với danh nghĩa là Công ty X là không đúng thẩm quyền, không đúng quy định của điều lệ công ty, không đúng quy định của luật doanh nghiệp. Vì vậy, chủ thể trực tiếp tham gia hợp đồng là ông K và ông T, nên việc ông T yêu cầu Công ty X trả lại tiền là không có cơ sở.

c. Một bên chủ thể hợp đồng là chi nhánh của pháp nhân.
Hiện nay, chi nhánh hoạt động một cách độc lập (tài chính và kế toán riêng biệt, tự chịu trách nhiệm về kê khai và nộp thuế, và lập báo cáo tài chính cuối năm) không hiếm, về cơ bản chi nhánh hạch toán độc lập hoạt động như một doanh nghiệp độc lập trong phạm vi được ủy quyền. Vì vậy việc chi nhánh thay pháp nhân tham gia vào các hợp đồng thương mại là phổ biến, câu hỏi đặt ra là Doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ ủy quyền cho chi nhánh hay người đứng đầu chi nhánh? Trường hợp người đại diện theo pháp luật duy nhất của doanh nghiệp kiêm người đứng đầu chi nhánh thì liệu có ủy quyền được không?
Về mặt chủ thể thì chi nhánh không có tư cách độc lập để ký kết hợp đồng với chủ thể khác. Thông thường, chi nhánh sẽ được công ty mẹ phân công nhiệm vụ, cho phép ký kết các hợp đồng với các đối tác của công ty dưới tư cách của pháp nhân, người đại diện theo pháp luật của công ty có thể lập văn bản ủy quyền cho người đứng đầu chi nhánh (đơn vị phụ thuộc) làm đại diện theo ủy quyền của công ty, nhân danh công ty ký kết hợp đồng theo khoản 1,2 và 5 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì không có quy định cấm người đại diện theo pháp luật không được kiêm nhiệm người người đứng đầu chi nhánh, điều này phụ thuộc vào điều lệ của mỗi công ty. Tuy nhiên, chế định về đại diện hiện tại quy định không cho phép người đại diện nhân danh người được đại diện để xác lập giao dịch với chính mình.
Kết luận:
Trên đây chỉ là ba trong số vô vàn tình huống nhầm lẫn về chủ thể trong quan hệ hợp đồng, có thể thấy trước khi tham gia vào bất kỳ hợp đồng thương mại nào, đều cần phải kiểm tra thật kỹ đến chủ thể là đối tác mà chúng ta sẽ cùng ký hợp đồng đã phù hợp với quy định của pháp luật hay chưa. Nếu không khi phát sinh tranh chấp chúng ta sẽ rơi vào những tình huống pháp lý bất lợi (ví dụ: không lấy lại được tài sản, bị bác yêu cầu khởi kiện,…)