SO SÁNH QUYỀN HẠN CHẤP HÀNH VIÊN VÀ THỪA HÀNH VIÊN THEO LUẬT MỚI

Thứ Th 6,
05/06/2026
Đăng bởi Hải Nguyễn Ngọc

SO SÁNH QUYỀN HẠN CHẤP HÀNH VIÊN VÀ THỪA HÀNH VIÊN THEO LUẬT MỚI

Trong thực tiễn thi hành án dân sự, nhiều cá nhân và doanh nghiệp thường nhầm lẫn giữa Chấp hành viên và Thừa hành viên (tên gọi mới của Thừa phát lại kể từ ngày 1/7/2026), bởi cả hai đều xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện bản án, quyết định của Tòa án. Sự nhầm lẫn này xuất phát từ việc các hoạt động nghiệp vụ có điểm giao thoa như: xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ hoặc ghi nhận sự kiện phục vụ thi hành án.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, đây là hai chức danh hoàn toàn khác nhau về bản chất quyền lực, vị trí pháp lý và phạm vi thẩm quyền. Việc phân định rõ ràng giữa hai chủ thể không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực pháp lý của hoạt động thi hành án; quyền lựa chọn dịch vụ pháp lý của đương sự; tính hợp pháp của các biện pháp xử lý tài sản.

đồ họa miêu tả so sánh quyền hạn chấp hành viên và thừa hành viên theo luật mới

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hai chức danh “chấp hành viên” và “thừa hành viên”

Đối với Chấp hành viên

Chấp hành viên là công chức được Nhà nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Hoạt động của Chấp hành viên chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi:

  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026);
  • Các nghị định và văn bản hướng dẫn liên quan.

Đây là chức danh mang tính quyền lực công, được Nhà nước bổ nhiệm để tổ chức thi hành bản án.

Đối với Thừa hành viên

Thừa hành viên là chức danh mới hình thành trên cơ sở đổi mới mô hình Thừa phát lại, hoạt động theo hướng xã hội hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp. Chức danh này thực hiện các nghiệp vụ hỗ trợ thi hành án và hỗ trợ hoạt động tố tụng theo khuôn khổ pháp luật chuyên ngành. Hoạt động này chịu sự điều chỉnh bởi:

  • Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và sắp tới là Luật Thi hành án dân sự năm 2025;
  • Thông tư 27/2025/TT-BTP hướng dẫn chi tiết về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại.

Đây là chức danh hoạt động theo mô hình dịch vụ pháp lý tư, thực hiện các nghiệp vụ hỗ trợ tư pháp nhằm giảm tải cho bộ máy nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính.

đồ họa miêu tả so sánh quyền hạn chấp hành viên và thừa hành viên theo luật mới

2. So sánh nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên và thừa hành viên

Tiêu chí phân tích

Chấp hành viên

Thừa hành viên

Vị trí pháp lý

Công chức nhà nước

Chủ thể hỗ trợ tư pháp

Phạm vi bản án được quyền thi hành

Tuyệt đối và toàn diện. Thi hành mọi bản án, quyết định của Tòa án (án dân sự, hình sự phần dân sự, án kinh tế, hành chính, tài sản liên quan đến Nhà nước...).

Bị giới hạn. Chỉ thi hành các bản án, quyết định Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại có yêu cầu trả tiền/tài sản. Không được thi hành án nếu có yếu tố tài sản Nhà nước.

Quyền xác minh tài khoản, tài sản

Quyền lực công. Được quyền trực tiếp yêu cầu Ngân hàng, Kho bạc, Văn phòng đăng ký đất đai... cung cấp thông tin tài sản của người phải thi hành án. Cơ quan khác bắt buộc phải cung cấp.

Dựa trên ủy quyền. Có quyền xác minh, nhưng thường phải thông qua sự ủy quyền của khách hàng. Nếu cơ quan, tổ chức từ chối cung cấp, Thừa hành viên phải đề nghị Tòa án hoặc Viện kiểm sát can thiệp.

Quyền áp dụng biện pháp bảo đảm

Tự quyết định. Chấp hành viên có quyền tự mình ra quyết định phong tỏa tài khoản ngân hàng, tạm giữ tài sản, giấy tờ, hoặc đề nghị cấm xuất cảnh đối với con nợ để chống tẩu tán tài sản.

Phải qua phê duyệt. Không được tự ý ra quyết định. Thừa hành viên muốn áp dụng biện pháp bảo đảm bắt buộc phải làm văn bản đề nghị Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự ra quyết định.

Quyền cưỡng chế thi hành án

Sức mạnh cưỡng chế tối cao. Có quyền tự tổ chức cưỡng chế, huy động lực lượng cảnh sát bảo vệ, phá khóa, áp giải, kê biên tài sản bằng biện pháp mạnh nếu đương sự chống đối.

Giới hạn cưỡng chế. Không có quyền trực tiếp huy động cảnh sát hay dùng vũ lực. Khi cần cưỡng chế, phải lập hồ sơ đề nghị cơ quan Công an và Cục THADS hỗ trợ lực lượng.

Nhiệm vụ tống đạt 

Chủ yếu tống đạt các văn bản, giấy tờ do chính Cơ quan thi hành án của mình ban hành.

Nhiệm vụ trọng tâm. Ký hợp đồng tống đạt giấy tờ thuê cho Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan THADS với tốc độ cực kỳ nhanh chóng.

Quyền lập vi bằng

Không có thẩm quyền này.

Đặc quyền độc quyền. Lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi có giá trị làm nguồn chứng cứ hợp pháp trước Tòa (ví dụ: Vi bằng ghi nhận con nợ đang chuyển nhượng nhà đất tẩu tán tài sản).

3. Tình huống thực tế: Nên chọn ai trong hoàn cảnh nào?

đồ họa miêu tả so sánh quyền hạn chấp hành viên và thừa hành viên theo luật mới

Tình huống: Anh A cho anh B vay 2 tỷ. Tòa tuyên anh B phải trả tiền cho anh A nhưng B cố tình trì hoãn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, khóa cửa nhà không tiếp khách và có dấu hiệu tẩu tán tài sản.

Trường hợp 1: Nếu anh A nộp đơn yêu cầu tại Cơ quan Thi hành án dân sự nhờ Chấp hành viên

  • Lợi thế: Không mất phí dịch vụ cao. Chấp hành viên có quyền ngay lập tức cấm anh B xuất cảnh, phong tỏa tài khoản ngân hàng của B. Khi cần, Chấp hành viên đưa cảnh sát đến phá khóa nhà B để xiết đồ.
  • Bất lợi: Thời gian chờ đợi có thể lâu vì Cơ quan thi hành án thường xuyên trong tình trạng quá tải hồ sơ.

Trường hợp 2: Nếu anh A thuê Thừa hành viên

  • Lợi thế: Tốc độ giải quyết cực nhanh, thái độ chăm sóc khách hàng tận tâm. Thừa hành viên có thể lập ngay vi bằng bằng chứng anh B đang tẩu tán tài sản để nộp cho Tòa hoặc Công an.
  • Bất lợi: Tốn phí dịch vụ. Và nếu anh B khóa cửa cố thủ, Thừa hành viên không được phép tự đạp cửa xông vào mà vẫn phải làm thủ tục nhờ Cục THADS và Công an hỗ trợ, sẽ mất thêm một nhịp thời gian.

Kết luận

Chấp hành viên và Thừa hành viên tuy cùng tham gia vào quá trình thi hành án dân sự nhưng khác nhau căn bản về bản chất pháp lý. Nếu Chấp hành viên là chủ thể thực thi quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm bản án được thi hành bằng các biện pháp bắt buộc, thì Thừa hành viên đóng vai trò hỗ trợ, ghi nhận và thúc đẩy quá trình thi hành án diễn ra minh bạch, hiệu quả hơn. Việc hiểu đúng phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức danh giúp cá nhân, tổ chức lựa chọn đúng cơ chế pháp lý, đồng thời tránh những nhầm lẫn có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp trong thực tiễn thi hành án.

 

Bài viết liên quan

popup

Số lượng:

Tổng tiền: